Khu nghỉ dưỡng tắm biển nhân tạo

 

HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------- oOo-------------

 

THUYẾT MINH

BÁO CÁO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG DỰ ÁN

KHU NGHỈ DƯỠNG TẮM BIỂN NHÂN TẠO

 

CHỦ ĐẦU TƯ : CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG THƢƠNG MẠI PHÚC NGUYÊN

ĐỊA ĐIỂM          : Xã Diên Đồng, Huyện Diên Khánh,TP.Nha Trang.Tỉnh Khánh Hò

Nha Trang – Tháng 2 năm 2018

Địa chỉ : 81 Lê Văn Lƣơng,Xã Phƣớc Kiển.Huyện Nhà Bè.TP.HCM

Điện thoại : 0988626979

Email : phucnguyenxd@yahoo.com

 

 

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ DỰ ÁN

 

I.1 Giới thiệu về chủ đầu tƣ

  1. Mô tả sơ bộ thông tin dự án

Tên dự án         : Khu nghỉ dưỡng tắm biển nhân tạo

  • Địa điểm xây dựng : Xã Diên Đồng,Huyện Diên Khánh.TP.Nha Trang.Tỉnh Khánh Hòa

Mục tiêu dự án               : Xây dựng khu du lịch biển nhân tạo

 

    • Mục đích đầu tư : Phục vụ nhu cầu vui chơi,giải trí,nghỉ ngơi của nhân dân tỉnh Khánh Hòa và du khách thập phương cũng như du khách nước ngoài.

 

      • Tạo việc làm và nâng cao mức sống cho lao dộng địa phương

 

      • Góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.

 

      • Đóng góp cho ngân sách nhà nước một khoản từ lợi nhuận kinh doanh.
    • Hình thức đầu tư : Đầu tư xây dựng mới

 

    • Tổng mức đầu tư : 10.000.000.000 đồng

 

    • Thời gian hoạt động : Lâu dài,Dự tính đầu năm 2019 dự án sẽ đi vào hoạt động.

 

I.1.2 Căn cứ pháp lý xây dựng dự án

  1. Văn bản pháp lý :

 

    • Luật doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.

 

    • Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.

 

    • Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi số 32/2013/QH 13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
    • Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH 13 0020 ngày 23 tháng 6 năm 2014

 

    • Luật quản lý thuế số 78/2006/QH 11 và Luật số 21/2012/QH 13 sửa đổi,bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế

 

    • Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23/12/2013 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính.

 

    • Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 có hiệu lực từ ngày 10 tháng 5 năm 2015 và thay thế Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

 

    • Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ .Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường.

 

    • Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ .Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy chữa cháy và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy

 

    • Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng.

 

    • Thông tư 02/2015/TT-BTNMT Quy định chi tiết một số điều của nghị định số 43/2014/NĐ-CP và nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 về đất đai của chính phủ.
 
    • Thông tư số 17/2013/TT-BXD ngày 30/10/2013 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí khảo sát xây dựng.

 

    • Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng kèm theo quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ xây dựng.

 

    • Các văn bản khác của Nhà nước liên quan đến lập tổng mức đầu tư,tổng dự toán và dự toán công trình.
  1. Các tiêu chuẩn :

 

Dự án Khu du lịch Biển nhân tạo được xây dựng dựa trên những tiêu chuẩn,quy chuẩn chính như sau :

  • Quy chuẩn xây dựng Việt Nam ( tập 1,2,3 xuất bản 1997-BXD ).

 

  • Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia

 

về Quy hoạch xây dựng ( QCVN:01/2008/BXD )

  • TCVN 2737-1995: Tải trọng và tác động-Tiêu chuẩn thiết kế.

 

  • TCXD 45-1978  : Tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công trình.

 

  • TCVN 5673-1992: Tiêu chuẩn thiết kế hệ thống thoát nước bên trong.

 

  • 11TCN 19-84    : Đường dây điện.

 

EVN     : Yêu cầu của nghành điện lực Việt Nam ( Electricity of Viet Nam )

 

CHƢƠNG II : CĂN CỨ XÁC ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƢ

 

II.1. Phân tích môi trƣờng vĩ mô

 

Nằm ở khu vực Nam Trung bộ, tỉnh Khánh Hoà có chiều dài đường mép nước tiếp giáp biển dài trên 385 km, diện tích vùng biển rộng lớn gấp nhiều lần phần đất liền. Tỉnh còn có khoảng hơn 200 đảo lớn nhỏ gần bờ và xa bờ, trong đó quần đảo Trường Sa có vị trí quan trọng trong phát triển KT – XH cũng như quốc phòng, an ninh không chỉ với Khánh Hoà mà với cả nước. Về địa lý hành chính, tỉnh Khánh Hoà có 5/9 huyện, thị xã, thành phố tiếp giáp biển gồm: Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Hoà, Vạn Ninh, Cam Lâm và huyện đảo Trường Sa.

 

Với những đặc điểm trên, Khánh Hoà có nhiều lợi thế để phát triển mạnh du lịch biển với nhiều bãi tắm dài và đẹp, khí hậu ôn hoà, thiên nhiên tươi đẹp; hệ sinh thái biển đa dạng như san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn; có vịnh Nha Trang được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới và được đánh giá có giá trị đa dạng sinh học cao vào loại nhất ở Việt Nam.

 

Khu vực ven bờ có 3 vịnh đẹp và có giá trị lớn về mặt kinh tế, quốc phòng là các vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh. Bên cạnh phát triển du lịch, 3 vịnh này đều là những vịnh nước sâu, kín gió, nằm gần tuyến đường hàng hải quốc tế nên rất thuận lợi cho việc xây dựng cảng biển phục vụ du khách quốc tế, kể cả trung chuyển hàng hóa quốc tế, công nghiệp đóng tàu và hậu cần nghề cá, khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão…Ngoài ra, khu vực biển ven bờ, khu vực cửa sông với các đầm, vịnh biển cũng rất thuận lợi cho nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.

 

Với tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển đảo và du lịch hiện có, tỉnh Khánh Hòa đã chủ trương khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo đúng “Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, tỉnh cũng luôn quan tâm đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học biển; khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững không gian, mặt nước, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển KT – XH vùng ven biển, trên đảo, phát triển kinh tế biển bền vững.

 

Công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về biển, về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo luôn được tỉnh Khánh Hòa chú trọng thông qua việc tổ

 

chức các Hội nghị phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường cho các đối tượng là cán bộ, công chức, cộng đồng dân cư ven biển. Đồng thời thường xuyên tổ chức đoàn kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đối với các DN có hoạt động sử dụng, khai thác tài nguyên và môi trường biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh.

 

Là 1 trong 10 trung tâm du lịch – dịch vụ lớn của cả nước nên thời gian qua, khách du lịch trong nước và đặc biệt là khách quốc tế đến với Nha Trang tăng đột biến. Đây vừa là lợi thế để tỉnh Khánh Hòa tập trung đầu tư phát triển du lịch địa phương, quảng bá hình ảnh vùng đất Nha Trang và con người Khánh Hòa đến với bạn bè quốc tế song cũng đồng thời là một thách thức không nhỏ đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của tỉnh (giao thông nội thị, các tuyến ven biển, xung quanh các điểm du lịch…), nhất là các dịp cao điểm, mùa lễ, Tết. Để hạn chế tình trạng này, tỉnh đã và đang tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp về đảm bảo trật tự an toàn giao thông (phân luồng giao thông tạm thời chống ùn tắc giao thông cục bộ tại một số tuyến đường và khu vực trên địa bàn Tp.Nha Trang…); giải pháp về quy hoạch, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông (chỉ đạo các chủ đầu tư hoàn thành xong một số dự án trọng điểm: đường Nha Trang – Diên Khánh, đường Phong Châu…; góp phần giải quyết được ùn tắc giao thông một số tuyến đường như; đường 23 tháng 10, đường Thái Nguyên, đường Trần Quý Cáp…). Bên cạnh đó, tỉnh cũng thống nhất quy hoạch bổ sung các bãi đậu xe (giao thông tĩnh) trên địa bàn Tp.Nha Trang làm cơ sở tổ chức lại giao thông, qua đó góp phần giảm ùn tắc, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn Thành phố.

 

Để có thể phát triển bền vững du lịch của Tp.Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa rất cần sự hỗ trợ của Trung ương trong việc triển khai thi công dự án cầu Xóm Bóng – Tp.Nha Trang; dự án cầu vượt tại nút giao tuyến tránh Diên Khánh và cầu vượt tại nút giao QL1C với QL1; có kế hoạch sớm di dời Ga Nha Trang ra khỏi khu vực nội thành để tỉnh tập trung quy hoạch, xây dựng phát triển đô thị Nha Trang đồng bộ cơ sở hạ tầng, tổ chức giao thông hợp lý và đảm bảo mỹ quan đô thị; hỗ trợ nguồn kinh phí để thực hiện dự án đường Trục Bắc-Nam qua trung tâm hành chính tỉnh Khánh Hòa, dự án cầu vượt Sông Cái kết hợp đập ngăn mặn.

 

EU là 1 trong 2 thị trường xuất khẩu dẫn đầu của Khánh Hòa; bình quân hàng năm, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh sang EU chiếm tỷ lệ trên 25% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Cơ cấu nhóm mặt hàng xuất khẩu giữa Khánh Hòa và EU không cạnh tranh trực tiếp mà mang tính bổ sung cho nhau. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa có khoảng hơn 40 DN có quan hệ thương mại với thị trường EU, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là: thủy sản, nông sản (cà phê), dệt may, thủ công mỹ nghệ, tàu biển.

 

EU là thị trường khó tính, đòi hỏi sản phẩm nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu cao về tiêu chuẩn kỹ thuật, VSATTP và kiểm dịch,… Đây là điều kiện để các DN phải nghiên cứu và áp dụng trong sản xuất sản phẩm để xuất khẩu. Hiện nay số DN Khánh Hòa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật do EU đưa ra chưa nhiều, chỉ có một số nhà máy sản xuất tiên tiến, đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về VSATTP của EU chủ yếu tập trung ở lĩnh vực thủy sản; do vậy ngành thủy sản sẽ có lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu vào EU. Đối với lĩnh vực dệt may, các DN Khánh Hòa chưa thể tự thiết kế sản phẩm để cung cấp theo nhu cầu thị trường mà chủ yếu vẫn làm gia công theo các đơn hàng xuất khẩu.

 

Có thể thấy việc gia nhập AEC giúp cho quá trình lưu chuyển hàng hóa không chỉ ở trong các nước thành viên ASEAN mà còn tạo điều kiện cho hàng hóa đến với các nền kinh tế khác. Tuy nhiên đi kèm cơ hội là tình trạng cạnh tranh khá khốc liệt khi hàng hóa của nhiều nước ASEAN có chất lượng cao hơn so với hàng hóa sản xuất trong nước. Tuy vậy thời gian qua một số DN Khánh Hòa đã tận dụng nguồn nguyên liệu từ các nước ASEAN để được hưởng lợi theo quy tắc xuất xứ cộng gộp trong các Hiệp đinh thương mại tự do giữa các nước thành viên ASEAN và giữa ASEAN với các nền kinh tế khác như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản,…

 

II.1.2 Định hƣớng tái cơ cấu nền kinh tế Khánh Hòa

 

Theo định hướng tại các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, XVI, XVII thì cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa được xác định phát triển theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Những năm qua, cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa đã chuyển dịch theo hướng hiện đại và đạt được nhiều chuyển biến vượt bậc. Dịch vụ đã và đang phát huy lợi thế cạnh tranh của mình, từng bước vươn lên dẫn đầu trong cơ cấu kinh tế; trong đó kinh tế từ du lịch đóng góp vào GRDP của tỉnh hàng năm chiếm tỷ trọng khoảng 12%. Trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng bước đầu đã hình thành một số ngành kinh tế mũi nhọn như: đóng tàu, chế biến, xuất khẩu thủy sản…Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản có tỷ trọng ngày một giảm song chất lượng tăng trưởng được nâng cao. Năm 2016, tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GRDP đạt 39,22%; công nghiệp và xây dựng 31,36%; nông, lâm nghiệp, thủy sản 11,42%. Có thể thấy, về cơ bản Khánh Hòa đã đạt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng định hướng đề ra.

 

Thực hiện Kết luận số 53-KL/TW ngày 24/12/2012 của Bộ Chính trị về phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong thời gian tới tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và cơ cấu nội ngành theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Đẩy mạnh phát triển tổng hợp kinh tế biển nhằm phát huy các lợi thế, tiềm năng của tỉnh, tập trung cho công nghiệp đóng tàu, vận tải, dịch vụ cảng biển, du lịch biển đảo, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Phấn đấu đến năm 2020 giá trị kinh tế biển chiếm 55-60% GRDP, trong đó du lịch chiếm từ 15% – 20% GRDP toàn tỉnh.

 

II.2. Vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng :

  • Cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu đầu tƣ

 

Khánh Hòa nằm trên trục giao thông Bắc Nam, thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, là cửa ngõ lên Tây Nguyên và là tỉnh có nhiều vịnh, cảng gần tuyến hàng hải quốc tế nhất ở Việt Nam.

 

Định hướng phát triển giao thông, vận tải Khánh Hòa là tận dụng lợi thế của 3 vịnh Vân Phong, Nha Trang và Cam Ranh nằm trên trục đường hàng hải Quốc tế Nam - Bắc Á, với xu thế vận tải biển bằng phương thức Container để đầu tư xây dựng cảng biển, khai thác hoạt động dịch vụ hàng hải, phát triển công nghiệp tàu thủy... Ðồng thời đầu tư phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn để giải quyết tốt nhiệm vụ luân chuyển hàng hoá của vùng ven biển. Đến nay đã có 44/45 xã, phường đã có đường đến trung tâm xã, đã căn bản khắc phục được tình trạng ngập úng trong mùa mưa bão, phục vụ tốt cho dân sinh và an ninh quốc phòng.

 

Những năm qua, Khánh Hòa đã huy động nhiều nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước với chính sách ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng qua các năm và đạt trên 110,5 nghìn tỷ đồng trong 5 năm 2011 – 2015, tăng gấp 2,3 lần so giai đoạn 2005 – 2010. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên GDP bình quân đạt 42,69%. Nguồn vốn ngân sách đã tập trung đầu tư theo 4 chương trình phát triển kinh tế - xã hội, triển khai các công trình trọng điểm nhằm tạo động lực phát triển trong thời gian tới. Huy động vốn đầu tư theo hình thức BT và sử dụng vốn ODA để triển khai các dự án xây dựng hạ tầng có tác dụng lan tỏa, có tính liên kết vùng nhằm đẩy mạnh quá trình đô thị hóa của tỉnh.

 

Kết quả đầu tư trong những năm qua đã cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, làm thay

 

đổi căn bản bộ mặt kinh tế - xã hội đô thị, nông thôn và miền núi của tỉnh, tạo điều kiện để các

 

thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh và cải thiện đời sống của nhân dân. Hàng trăm

công trình xây dựng cơ sở hạ tầng trên các lĩnh vực giao thông, công nghiệp, điện, nước, nông

 

nghiệp, thủy lợi, dịch vụ, du lịch, văn hóa, thông tin, giáo dục, y tế, thể thao, chỉnh trang đô thị…

được đầu tư xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng. Mạng lưới cấp điện, cấp nước, giao thông,

 

liên lạc, ngân hàng, tài chính, y tế, dịch vụ công cộng phát triển mạnh đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu

tư. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm, có tầm cỡ và quy mô đầu tư lớn đã hoàn thành đưa vào sử

 

dụng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

 

Hiện nay, tuyến đường từ tỉnh Khánh Hòa lên tỉnh Lâm Đồng với chiều dài 70 km đã cơ bản hoàn thành. Đây là con đường huyết mạch quan trọng để phát triển kinh tế giữa Khánh Hòa với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.Đặc biệt, khi Hầm đường bộ qua đèo Cả hoàn thiện xong giai đoạn cuối cùng (dự kiến tháng 7-2017), sẽ mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho khu vực Bắc Khánh Hòa, kết nối thuận lợi với Khu kinh tế Vân Phong.Với vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên ưu đãi, hệ thống giao thông vận tải thuận lợi, dịch vụ phát triển, tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào; Khánh Hòa đã và đang có các chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp công nghệ cao, hướng sản xuất hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy, hải sản; tài chính, ngân hàng, bưu chính, viễn thông, dịch vụ cao cấp... Khánh Hòa sẽ là nơi đầu tư an toàn và phát triển.

Bản đồ vị trí tỉnh Khánh Hòa

 

  • Vị trí địa lý:

 

Khánh Hòa nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp ba huyện Sông Hinh, Đông Hòa và Tây Hòa của tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp hai huyện M'Drăk và Krông Bông của tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp huyện Bác Ái Thuận Bắc của tỉnh Ninh Thuận, phía Tây Nam giáp huyện Lạc Dương của tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp Biển Đông. Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang, cách Thành phố Hồ Chí Minh 443 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội1.280 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.

 

Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km². Phần đất liền của tỉnh nằm kéo dài từ tọa độ địa lý 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến 109°29’55" kinh độ Đông. Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh và cũng là điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam. Chiều dài vào khoảng 150 km, chiều ngang chỗ rộng nhất vào khoảng 90 km.

 

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia cắt và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea

 

Trang (huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nên cả hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa đều tranh chấp để phân định địa giới hành chính.

  • Địa hình:

 

Là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích Khánh Hòa là núi non, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh.[30] Miền đồng bằng lại bị chia

 

thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển. Do đó để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì.

  • Vùng núi và bán sơn địa

 

Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 60 m. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng.

 

Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn 1000 m, trong đó có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264 m), Hòn Ngang (1128 m) và Hòn Giúp (1127 m). Dãy Vọng Phu - Tam Phong có hướng tây nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lắk. Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp, gắn với những huyền thoại dân gian và di tích lịch sử, sự kiện của địa phương. Đến phía nam và tây nam, lại xuất hiện một vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062 m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh Hòa. Do có nhiều núi cao, mật độ chia cắt lớn bởi khe, suối, sông tạo thành nhiều hẻm, vực, Thung lũng sâu, gây khó khăn cho giao thông. Ngoài ra, khu vực này còn có Thung lũng Ô Kha, được biết đến là một vùng nguy hiểm cho hàng không.

  • Đồng bằng

 

Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển. Chẳng những thế, địa hình rừng núi của tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, nên nhìn chung Khánh Hòa không phải là nơi thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km². Cả hai đồng bằng này đều được cấu tạo từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển. Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển, cùng với lượng diện tích canh tác nhỏ ở vùng Thung lũng của hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.

  • Bờ biển và biển ven bờ

 

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam. Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ. Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn, đó là Đại Lãnh, vịnh Vân Phong, Hòn Khói, đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh. Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km, thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18–20 m, và thường được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á, trước đây được sử dụng làm căn cứ quân sự của Hoa Kỳ rồi Liên (sau này là Nga) nhưng về sau được chuyển thành cảng dân sự.

 

Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp. Địa hình vùng thềm lục địa phản ánh sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền. Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra biển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy Hoàng Ngưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà (Con Rùa), mũi Đông Ba... mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày nay đã bị nước biển phủ kín. Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun... Xen giữa các đái đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển, đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh.

 

Ngoài các đảo đá ven bờ, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảo Trường Sa, với khoảng 100 đảo bãi cạn, bãi ngầm rải rác trên một diện tích từ 160 đến 180 ngàn km², trong đó có từ 23 đến 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên, với tổng diện tích 10 km². Đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa Ba Bình chỉ rộng 0,65 km². Bãi lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30 km; rộng 5 km (ngập nước khi triều lên). Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách đá vôi san hô, cao vài ba mét.

  • Địa chất - tài nguyên

 

Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit ryolit, dacit có nguồn gốc mác ma xâm nhập hoặc phún trào kiểu mới. Ngoài ra còn có các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi. Về địa hình kiến tạo, phần đất của tỉnh Khánh Hòa đã được hình thành từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông-Nam của địa khối cổ Kom Tom, được nổi lên khỏi mặt nước biển từ đại Cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm. Trong đại Trung sinh có 2 chu kỳ tạo sản inđôxi kimêri có ảnh hưởng một phần đến Khánh Hòa. Do quá trình phong hóa vật lý, hóa học diễn ra trên nền đá granit, ryolit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, đa dạng và phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng.

 

Khánh Hòa có nhiều tài nguyên khoáng sản như than bùn, cao

Bài viết liên quan
Công ty TNHH Xây Dựng Thương Mại Phúc Nguyên
Với đội ngũ kiến trúc sư, Kỹ sư và các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng tài năng và sáng tạo
  • 81 Lê Văn Lương, Phước Kiển, Nhà Bè, HCM
  • Số điện thoại
    0362 722 277
  • Website
    phucnguyenxd.com xaydungcongtrinh.vn
Zalo Youtube Twitter Facebokk
2020 Copyright © Phúc Nguyên. All rights reserved. Designed by NINA Co., Ltd
Zalo
Zalo